Dịch tả lợn châu Phi nguy hiểm thế nào?

Lợn nhiễm vi rút

Virus dịch tả lợn châu Phi (African swine fever virus, viết tắt:ASFV) là tác nhân gây bệnh sốt lợn ở châu Phi (ASF). Virus gây sốt xuất huyết với tỷ lệ tử vong cao ở lợn, nhưng lây nhiễm liên tục vào vật chủ tự nhiên, Lợn rừng châu Philợn lông rậm và ve mềm của chi Ornithodoros. Loài ve có khả năng hoạt động như một vật chủ trung giankhông có dấu hiệu bệnh.

ASFV là một virus DNA sợi kép lớn, nhân lên trong tế bào chất của các tế bào bị nhiễm bệnh. ASFV là virus duy nhất được biết đến với bộ gen DNA sợi kép được truyền bởi động vật chân đốt. Virus gây bệnh làm chết các con lợn nhà. Một số chủng phân lập có thể gây ra cái chết của động vật nhanh, trong vòng một tuần sau khi bị nhiễm bệnh. Trong tất cả các loài khác, virus gây ra không có bệnh rõ ràng. ASFV là loài đặc hữu của châu Phi cận Sahara và tồn tại trong tự nhiên thông qua một chu kỳ lây nhiễm từ ve và lợn rừng, lợn lông rậm và warthog. Bệnh này được mô tả lần đầu tiên sau khi những người định cư châu Âu đưa lợn vào khu vực lưu hành bệnh ASFV và đây là một ví dụ về bệnh truyền nhiễm mới nổi.

Lợn nhiễm vi rút

ASFV là một loại virus DNA sợi kép, lớn, có bộ gen tuyến tính chứa ít nhất 150 gen. Số lượng gen khác nhau một chút giữa các dòng virus khác nhau.[3] ASFV có những điểm tương đồng với các virus DNA lớn khác, ví dụ như poxvirus, iridovirus và mimivirus. Tương tự như các cơn sốt xuất huyết do virus khác, các tế bào đích chính để nhân lên là các tế bào đơn dòng, đại thực bào. Sự xâm nhập của virus vào tế bào chủ là qua trung gian thụ thể, nhưng cơ chế chính xác của endocytosis hiện chưa rõ ràng.[4]

Virus mã hóa các enzyme cần thiết để sao chép và sao chép bộ gen của nó, bao gồm các yếu tố của hệ thống sửa chữa cắt bỏ bazơ, protein cấu trúc và nhiều protein mà không cần thiết cho sự sao chép trong tế bào, nhưng thay vào đó có vai trò trong sự tồn tại và truyền virus của vật chủ. Sự nhân lên của virus diễn ra trong các khu vực hạt nhân. Đó là một quá trình được phối hợp chặt chẽ với ít nhất bốn giai đoạn phiên mã ngay lập tức – trước sớm, sớm, trung gian và muộn. Phần lớn sự sao chép và lắp ráp xảy ra ở các khu vực hạt nhân rời rạc của tế bào được gọi là các nhà máy virus và cuối cùng là virion tiền sinh được vận chuyển đến màng plasma dọc theo các vi ống nơi chúng nhú ra hoặc bị đẩy ra dọc theo các tế bào actin để lây nhiễm vào các tế bào mới. Khi virus tiến triển trong suốt vòng đời của nó, hầu hết nếu không phải tất cả các bào quan của tế bào chủ đều bị biến đổi, thích nghi hoặc, trong một số trường hợp, bị phá hủy.

Dấu hiệu và triệu chứng

Ở dạng cấp tính của bệnh gây ra bởi các chủng virus có độc lực cao, lợn có thể bị sốt cao, nhưng không có triệu chứng đáng chú ý nào khác trong vài ngày đầu.[5] Sau đó lợn dần mất cảm giác ngon miệng và trở nên chán nản. Ở lợn da trắng, tứ chi chuyển sang màu xanh tím và xuất huyết trở nên rõ ràng trên tai và bụng. Các nhóm lợn bị nhiễm bệnh nằm co ro cùng nhau run rẩy, thở bất thường và đôi khi ho. Nếu bị buộc phải đứng, chúng có vẻ đứng không được ổn định. Trong vài ngày bị nhiễm trùng, lợn rơi vào trạng thái hôn mê và sau đó chết. Ở lợn nái mang thai, sảy thai tự nhiên xảy ra. Nếu bị nhiễm trùng nhẹ, lợn bị nhiễm bệnh sẽ giảm cân, gầy và phát triển các dấu hiệu viêm phổi, loét da và sưng khớp.

Chẩn đoán

Các triệu chứng lâm sàng của nhiễm ASFV rất giống với sốt lợn cổ điển, và hai bệnh thường phải được phân biệt bằng chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Chẩn đoán này thường được thực hiện bằng ELISA hoặc phân lập virus từ máu, hạch bạch huyết, lá lách hoặc huyết thanh của lợn bị nhiễm bệnh

(Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)